Những điểm cao bất tử

Website Traffic NHỮNG ĐIỂM CAO BẤT TỬ
(trích kí sự lịch sử Sư đoàn Sao Vàng)
PHẦN 1.

Trong khi những tiếng thét phẫn nộ: "Hãy chặn đứng bàn tay của bọn Trung Quốc xâm lược", "Kiên quyết bảo vệ Việt Nam, ủng hộ Việt Nam chiến đấu", "Không được đụng tới Vệt Nam"... đang vang lên ở khắp nơi trên thế giới thì ở Lạng Sơn, hưởng ứng lời kêu gọi của tỉnh uỷ và UBND tỉnh, một phong trào thi đua "Quyết đánh thắng quân Trung Quốc xâm lược" đã diễn ra ở khắp nơi.

Các đơn vị tự vệ, dân quân được bổ sung thêm quân số, trang bị; nhiều đại đội, trung đội được điều lên tăng cường cho tuyến một. Cơ quan an ninh tỉnh được lệnh tăng cường hoạt động, phân loại những phần tử xấu, lập các phương án quét sạch "lực lượng thứ năm" của địch, đạp tan kế hoạch gây bạo loạn từ bên trong của chúng.

Từng đoàn xe tải của Hà Bắc, Bắc Thái, Hà Nội... chở đạn, chở hàng nối nhau ngược lên Lạng Sơn. Đoàn tàu hoả Hà Nội-Đồng Mỏ được lệnh tăng chuyến, chở quân, chở phương tiện lên biên giới, chở đồng bào sơ tán về phía sau. Lực lượng vũ trang các tỉnh, thành phố từ Bình Trị Thiên trở ra được lệnh chuẩn bị gấp rút đi chiến đấu. Nhân dân khắp nơi trong cả nước sục sôi khí thế đánh giặc bảo vệ quê hương. Trước hoạ xâm lăng, cả dân tộc ta lại nhất tề đứng lên xiết chặt đội ngũ.

Sáng ngày 18-2-1979, sư đoàn mở trận phản kích đầu tiên với quy mô trung đoàn thiếu vào cánh quân vu hồi của địch ở Tam Lung. một trong những mục tiêu chủ yếu của trận tiến công là phải chiếm lại các điểm cao Chậu Cảnh, đồi Địa Chất, Bản Phân, những vị trí quan trọng tại Tam Lung vừa bị địch chiếm.

Chậu Cảnh là ngọn đồi cao gồm 4 mỏm nằm án ngữ ngay bên cạnh khúc lượn của đường 1A. Đại đội 5 (tiểu đoàn 2) sau khi pháo ngừng bắn đã lao thẳng lên đánh chiếm tầng công sự thứ nhất. Một
loạt đạn đại liên của địch bắn chặn, đại đội trưởng Đồng Văn Sinh hy sinh, chính trị viên Hải ra lệnh cho bộ đội xung phong tiếp. Cả đại đội tràn lên đánh chiếm tầng công sự thứ hai. Chính trị viên Hải vừa dẫn đầu mũi chính diện vượt qua một sườn đồi bỗng đứng khựng lại lảo đảo rồi ngã vào lòng đại đội phó Dự. "Trả thù cho anh Hải, anh Sinh !". Dự hô lớn rồi bật dậy dẫn tổ chính diện đánh thốc lên tuyến công sự địch. Khí thế tiến công của chiến sĩ ta làm cho quân địch khiếp sợ. 30 phút sau, đồi Chậu Cảnh im hẳn tiếng súng. Xác địch nằm rải rác ở cả 4 mỏm đồi. Những tên sống sót vất súng, chạy thục mạng về điểm cao 409. Ở hướng quan trọng, tiểu đoàn 1 cũng đã làm chủ Bản Phân, đồi Địa Chất.

Vậy là 2 cánh quân vu hồi của địch ở đường 1A và 1B bị giáng đòn đau ở Chậu Cảnh và Song Áng.

Trên các điểm tựa, bộ đội ta vẫn trụ bám kiên cường đẩy lui hàng tiểu đoàn, trung đoàn địch tiến công. Điều đó làm bọn chỉ huy địch cay cú. Ngày 18-2 đã trôi qua nhưng thị xã Lạng Sơn, nơi kế hoạch hội quân của chúng sau 48 tiếng đồng hồ vẫn còn quá xa và đầy nguy hiểm. Chúng tiếp tục ném thêm 2 trung đoàn bộ binh nữa để chia cắt bằng được con đường 1A, 1B. rạng sáng ngày 19-2- 1979 lợi dụng sương mù và sử dụng một lực lượng pháo binh chi viện dày đặc, địch đã chiếm lại được đồi Chậu Cảnh và điểm cao Khôn Làng.

Phải đánh những trận phản kích với quy mô lớn hơn trên cả 2 hướng: tiêu diệt bọn địch phía trước và bọn địch phía sau không cho chúng ùn lên để giữ vững thế trận. Đó là quyết định của bộ tư lệnh sư đoàn đêm 19-2-1979. Theo kế hoạch này, ngay sáng 20-2-1979 sư đoàn mở 2 khu vực tiến công. Khu vực 1 (hướng chính) dùng trung đoàn 2 có chi viện trực tiếp của hoả lực sư đoàn, tiêu diệt địch ở đồi Chậu Cảnh, mở thông đường 1A lên Đồng Đăng. Khu vực 2 dùng tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn công binh 15 quét sạch địch từ Khôn Làng đến Con Khoang mở thông đường 1B lên cụm điểm tựa 339, Thâm Mô, Pháo Đài, nơi vẫn đang diễn ra những trận chiến đấu giằng co quyết liệt từ sáng 17-2-1979. Các trận địa pháo được điều chỉnh để vừa chi viện trực tiếp cho bộ binh tiến công vừa bắn phá các trận địa pháo và các cụm quân địch ở phía sau.

Một cuộc chạy đua với thời gian, với địch diễn ra căng thẳng suốt đêm 19. Nhiều trận địa pháo được bố trí lại trên hướng chủ yếu. Sở chỉ huy trung đoàn 2, các đài quan sát pháo binh cũng tiến lên phía trước, áp sát khu vực chiến đấu của trung đoàn. Các đơn vị bộ binh tăng cường cho các hướng cũng được lệnh gấp rút đến vị trí chiếm lĩnh trước khi trời sáng. Riêng tiểu đoàn 7 phải vượt quãng đường dài hơn 50km trong điều kiện thiếu xe vận chuyển. Nhưng nhờ xử trí linh hoạt của cơ quan tham mưu và hậu cần sư đoàn, nhờ sự chi viện kịp thời của tỉnh Lạng Sơn nên đơn vị đã đến trận địa đúng kế hoạch bằng những chiếc xe kéo pháo, xe tải và đội xe Hải Âu của tỉnh.

5 giờ ngày 20-2-1979, tiểu đoàn 7 và đại đội 1 công binh sư đoàn do trung đoàn 12 chỉ huy bất ngờ đánh chiếm điểm cao Khôn Làng. Các chiến sĩ xung kích do đại đội trưởng Nguyễn Nho Bông chỉ huy đã táo bạo thọc thẳng lên trận địa địch, tiêu diệt gần hết 1 đại đội, mở đầu cho những đợt phản kích mới.

Trong khi đó, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 2) đang nôn nóng chờ sương mù tan để đánh chiếm đồi Chậu Cảnh. Đây là trận đầu tiên của tiểu đoàn đánh quân Trung Quốc xâm lược. Lực lượng của tiểu đoàn còn rất sung sức cả về số lượng lẫn chất lượng. Trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ xung phong nhận nhiệm vụ chiến đấu ở tuyến một.

7 giờ sáng, giữa lúc địch đang đi lại lộn xộn ở mỏm 2, sư đoàn trưởng ra lệnh cho pháo binh nổ súng. Những viên đạn pháo bắn thẳng 85mm, pháo bắn vòng cầu liên tiếp trùm xuống 4 mỏm đồi Chậu Cảnh 1 biển lửa. Các điểm cao 409, 611, 675, những điểm tựa ở sau lưng chúng cũng nổ cháy dữ dội. Trong khi đó, các chiến sĩ tiểu đoàn 3 nhanh chóng đánh chiếm bàn đạp đồi sắn. Đại đội 10, mũi chủ yếu của tiểu đoàn, khi pháo binh vừa ngừng bắn đã đánh thốc lên đồi Chậu Cảnh dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Phan Bá Mạnh. Vừa sử dụng M79, vừa chỉ huy 2 khẩu đại liên và 2 khẩu cối 60mm, Mạnh kịp thời chi viện cho các chiến sĩ đánh chiếm mỏm 2 trong vòng 10 phút. Tại mỏm đồi này 2 anh em Nguyễn Đức Vượng và Nguyễn Đức Huệ cùng nhập ngũ một ngày, vừa yểm trợ nhau xung phong, vừa nhặt hàng chục quả lựu đạn của địch ném trả chúng, diệt hơn 30 tên địch. Tên tiểu đoàn trưởng chỉ huy mỏm 2 rối rít gọi điện xin rút lui nhưng hắn chỉ nhận được 1 bức điện trả lời cụt lủn: "Các anh giữ được thì sống, không giữ được thì chết".

Ở hướng quan trọng, sau khi đánh chiếm tầng công sự thứ nhất, các chiến sĩ đại đội 11 vừa xung phong lên tầng thứ hai đã bị đạn 12,8mm ở điểm cao 675 bắn thúc vào sườn. Rất nhanh, tiểu đoàn trưởng Đỗ Ngọc Ngòi đề nghị sư đoàn bắn pháo kiềm chế điểm cao 675 và ra lệnh cho đại đội 10 từ mỏm 2 đánh qua mỏm 1 chi viện cho đại đội 11. Bị ép từ 2 phía, bọn địch ở mỏm 1 bung ra tháo chạy, bỏ lại những tên bị thương chưa kịp băng bó đang lăn lộn trên mặt đồi. Sau 1 giờ chiến đấu, điểm cao Chậu Cảnh lại sạch bóng giặc. Hơn 200 tên địch phơi xác trên đỉnh đồi. Tổ quay phim của Phan Sĩ Lan cùng xung phong với bộ đội, đã kịp thời ghi vào ống kính những hình ảnh thảm hại của quân Trung Quốc xâm lược.

Trận tiêu diệt tiểu đoàn địch ở đồi Chậu Cảnh của tiểu đoàn 3 là kết quả của tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc, khẩn trương của cán bộ, chiến sĩ và kết quả chuẩn bị công phu của các đơn vị hoả lực. Pháo bắn thẳng cũng như pháo bắn vòng cầu đã góp một phần chiến công lớn trong trận chiến đấu xuất sắc này.

Sau trận phản kích thắng lợi ở Chậu Cảnh, tiểu đoàn 7 (thiếu) chiếm lại điểm cao Khôn Làng lần thứ hai vào ngày 21-2 và trận vận động tiến công của tiểu đoàn 1 và 4 ở khu vực Thâm Mô ngày 22- 2 làm cho các cánh quân vu hồi của địch bị thiệt hại nặng. Từ hung hăng, ào ạt, địch bắt đầu chững lại để dồn quân, dồn phương tiện, đánh lấn dần từng mục tiêu. Điều này chứng tỏ chúng đang rất lúng túng về chiến thuật, chiến dịch. Bọn lính Trung Quốc từ chỗ hò hét "tả ! tả !" lao lên theo tiếng kèn và hiệu lệnh đã bắt đầu bỏ chạy khi bị pháo bắn hoặc bộ binh ta phản kích. Trên hướng phòng ngự của tiểu đoàn 5 ở Bản Thấu, từ sau trận thất bại ngày 18-2-1979, địch chưa dám tổ chức tấn công thêm lần nào. Tại Tam Lung, chúng chỉ dùng pháo bắn phá hoại trận địa của ta ở Chậu Cảnh. Địch tập trung lực lượng để đánh chiếm khu vực Pháo Đài, Thâm Mô, 339. Mỗi ngày, chúng bắn hàng vạn quả đạn pháo lên các điểm tựa và thay quân liên tục. Trung đoàn này bị đánh giập đầu, chúng đưa trung đoàn khác lên thay thế. Mỗi ngày chúng tổ chức 7-10 lần tiến công, có khi dùng lực lượng gần 1 sư đoàn cùng tiến công để đánh vào các điểm tựa chưa đầy 2 tiểu đoàn của ta.

Các chiến sĩ trung đoàn 12, các chiến sĩ pháo binh, công binh đã chiến đấu dai dẳng, quyết liệt, gian khổ. Hàng ngàn tên địch bị đền tội, hơn 20 xe tăng của chúng bị bắn cháy, nhưng lực lượng của ta cũng vợi dần. Súng đạn phải dồn lại cho người còn sống. Bộ đội ban ngày quần nhau với địch, ban đêm sửa sang công sự, giải quyết thương binh, tử sĩ. Các chiến sĩ vận tải, cán bộ, chiến sĩ cơ quan đêm nào cũng len lỏi giữa các cụm quân địch tiếp đạn, nước, lương thực thực phẩm cho các điểm tựa. Những nắm cơm vắt đêm đêm mang lên trận địa nhiều khi thấm máu của các chiến sĩ nuôi quân, liên lạc, y tá. Các chiến sĩ bảo vệ cụm điểm tựa Đồng Đăng đã làm sống lại một Cây Rui, một Đầu Tượng, 174 trên đất Lạng Sơn và ở đó một lần nữa họ lại trở thành bất tử.

Bọn địch càng cay cú vì tổn thất và vì những tham vọng ban đầu chưa thực hiện được. Đã 5 ngày trôi qua nhưng thị xã Lạng Sơn vẫn còn xa cách hàng chục km và đội quân hàng vạn tên của chúng vẫn còn bị ghìm cứng lại trước những ngọn đồi nhỏ bé tưởng như lúc nào cũng chỉ có mấy chục chiến sĩ ta canh giữ và chỉ cách biên giới chưa đầy 4km. Hãng thông tấn AFP lúc bấy giờ đã nhận xét: "So với quân đội Việt Nam, một quân đội dày dạn chiến đấu, quân đội Trung Quốc tỏ ra có sức phản công yếu. Mới gặp quân địa phương của Việt Nam họ đã bị chặn lại và bị tổn thất nặng".

Tuy nhiên chúng vẫn còn tiềm lực nên sau mỗi lần thất bại, chúng càng điên cuồng hơn, thủ đoạn càng thâm hiểm hơn. Nhưng trước khi lên được Pháo Đài, Thâm Mô, 339 chúng đã phải chịu một tổn thất nặng nề, và cụm điểm tựa Đồng Đăng đã chói ngời trong trang sử sư đoàn với những chiến công tuyệt vời của các dũng sĩ đã hy sinh chiến đấu để bảo vệ những điểm cao ấy.

Không chiếm được các điểm cao Pháo Đài, Thâm Mô, 339, địch không thể làm chủ được Đồng Đăng, không thể dồn quân đánh vào Tam Lung để tới thị xã Lạng Sơn được. Vì thế đến ngày 21-2, chúng tung toàn bộ lực lượng dự bị của quân đoàn 55 vào khu vực Đồng Đăng và quân đoàn 54 dự bị chiến dịch cũng được lệnh áp sát biên giới Lạng Sơn nhằm tạo một ưu thế gấp hàng chục lần về binh hảo lực để đánh vào cụm điểm tựa Đồng Đăng.

Phân tích địch-ta, bộ tư lệnh sư đoàn chủ trương kìm cánh quân địch ở Tam Lung để dồn sức tăng cường cho hướng chủ yếu Đồng Đăng. Ngay đêm 20-2, sư đoàn phó Đới Ngọc Cầu và phó chính uỷ Nguyễn Ngọc San được lệnh xuống tăng cường chỉ huy trung đoàn 12. Các trận địa pháo được bổ sung thêm quân số và đạn. Nhiều chuyến hàng đã vượt qua khu vực Tam Lung lên chi viện cho cụm điểm tựa Đồng Đăng.

Cụm điểm tựa bảo vệ Đồng Đăng: Thâm Mô, Pháo Đài, điểm cao 339 như 3 chân kiềng đứng ở phía tây nam thị trấn Đồng Đăng. Trong những ngày qua, 3 điểm tựa đã dựa vào nhau duy trì cuộc chiến đấu. Bọn địch tràn lên Pháo Đài thì trận địa 339, thâm Mô dùng hoả lực đánh vào sau lưng và bên sườn chúng. Khi địch đánh lên Thâm Mô thì các chiến sĩ ta ở Pháo Đài, 339 lại làm công việc đó... Địch đã bao lần phải thay đổi thủ đoạn để đánh chiếm các điểm tựa này: từ đánh ào ạt xoay sang đánh lấn từng bước, đánh đồng loạt một lúc không được phải xoay sang đánh chiếm từng mục tiêu vẫn không được. Giờ đây chúng phải tăng quân để chuẩn bị đánh một lúc cả 3 điểm tựa.

Thâm Mô là 1 ngọn đồi có 5 mỏm kéo dài từ ngã ba đường 1A, 1B đến sát phía nam thị trấn Đồng Đăng, do đại đội 2 (tiểu đoàn 4) và đại đội cao xạ 37mm chốt giữ. Từ rạng sáng ngày 17-2, cùng với xe tăng, bộ binh địch đã tạo thành thế vây ép cô lập đại đội cao xạ và đại đội 2 với các đơn vị khác. Từ đó, suốt ngày này qua ngày khác, những trận chiến đấu liên tục diễn ra trên đồi thâm Mô. Địch đã 2 lần chiếm được hầu hết trận địa ta nhưng được chi viện của trung đoàn, tiểu đoàn 4 đã đánh hất địch xuống.

Mờ sáng ngày 22-2, sau khi tăng lực lượng, sư đoàn 163 địch có xe tăng và pháo binh chi viện mở đợt tiến công toàn diện vào cả 3 điểm cao Thâm Mô, Pháo Đài, 339. Những trận chiến đấu giằng co quyết liệt diễn ra trên các mỏm đồi Thâm Mô. Các chiến sĩ y tá, nuôi quân, liên lạc cũng quần đánh địch từ khu nhà văn hoá đại đội đến hầm chỉ huy. Địch chết lớp này, chúng thay lớp khác và tới 10 giờ, các mỏm 1, 2, 3 rơi vào tay địch. Từ đó trận địa của đại đội 2 ở mỏm 5 mỗi lúc một căng thẳng vì đạn pháo và đạn đại liên địch. Sau 5 ngày chiến đấu, lực lượng cơ động của trung đoàn đã bị tỏn thất và địa đội 2 chỉ còn lại 20 chiến sĩ, do chính trị viên Phạm Ngọc Yểng và Phan Văn Thắng, học viên Học viện Hậu cần về thực tập chỉ huy. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Toàn đã hy sinh ngay từ đợt tiến công đầu tiên của địch vào sáng ngày 17-2.

Sau khi đại đội trưởng hy sinh, Yểng và Thắng trở thành chỗ dựa, linh hồn của đơn vị. 2 người thường đảm nhiệm 2 hướng đánh và hết sức tin tưởng nhau. Trên ngọn đồi không rộng lắm này đã xuất hiện biết bao sự tích anh hùng mà chỉ khi giặc đến, phẩm chất và khả năng của từng chiến sĩ mới được bộc lộ hết. Chiến sĩ nuôi quân Nguyễn Hữu Dũng, 19 tuổi, suốt 5 ngày chiến đấu là 5 ngày đêm len lỏi giữa các ổ phục kích của địch, bất chấp đạn pháo ác liệt mang cơm tới từng mỏm đồi cho bọ đội, có lần gặp địch đã dùng dao găm diệt địch thu súng.

Khẩu súng trên tay Phạm Ngọc Yểng là khẩu tiểu liên của đại đội trưởng. Trước khi hy sinh, mặc dù không nói được, anh vẫn dồn sức trao khẩu súng cho Yểng như gửi phần trách nhiệm của anh cho bạn.

14 giờ, địch lại nổi hiệu kèn tấn công. trên đỉnh đồi, tiếng nói của chính trị viên Phạm Ngọc Yểng vang lên: "Các chiến sĩ đại đội 2 tiểu đoàn 4 hãy dũng cảm tiêu diệt quân cướp nước, giữ vững trận địa". Tiếp đó là tiếng súng đánh trả của ta rộ lên. Ở hướng trung đội 3, cuộc chiến đấu đang diễn ra dọc các hào giao thông. biết lực lượng ta có hạn, địch cứ thúc quân tràn lên. Bộ đội ta đánh địch bằng mọi thứ trong tay, từ súng đạn đến đất đá và tay không. Bản thân Phan Văn Thắng cũng giật súng địch đánh địch và lấy báng súng quật vào đầu chúng.

Ở trung đội do Phạm Ngọc Yểng chỉ huy, khi địch ùa vào tầng công sự thứ nhất, các chiến sĩ ta đồng loạt ném lựu đạn theo tiếng hô của yểng rồi xông tới. Một trận giáp lá cà diễn ra. Một tên địch bất ngờ lao tới húc đầu vào bụng Yểng làm anh ngã ngửa, khẩu tiểu liên văng sang một bên. Tên giặc theo đà chồm lên người Yểng. Nhưng nó bỗng giật nảy người, 2 tay buông khỏi cổ Yểng, đổ vật xuống bên cạnh. Đồng chí liên lạc nhoài người đỡ Yểng. 2 người ôm chầm lấy nhau. Vẫn luôn theo sát chính trị viên, đồng chí liên lạc đã kịp thời kết liễu tên giặc cứu sống Yểng.

Càng về chiều, trận đánh trên đồi Thâm Mô càng diễn ra quyết liệt. Địch dồn quân, dồn đạn để chiếm nốt mỏm đồi cuối cùng trước khi trời tối, nhưng chúng vẫn bị ghìm lại ở tầng công sự thứ nhất. Các chiến sĩ còn lại trong đại đội dồn lên đỉnh đồi.

Xẩm tối, địch lại ồ ạt tổ chức đợt tiến công cuối cùng. Yểng và Thắng chia nhau mỗi người phụ trách một tổ chiến đấu. Lúc đó trận địa chỉ còn 10 chiến sĩ. Từ tầng công sự thứ nhất, địch bám nhau lao tới. Khẩu AK của Yểng hết đạn. Anh rút súng ngắn đánh địch. Một tên giặc to béo nhảy bổ vào người anh. yểng né tránh làm nó lỡ đà rồi giơ thẳng tay nện khẩu K54 vào sọ nó.

Tổ của Thắng cũng liên tiếp đánh địch hết đợt này đến đợt khác. Đich chiếm gần hết công sự chiến đấu của tổ. Lựu đạn hết, đạn tiểu liên chỉ còn 1 băng. Giữa lúc đó tin Phạm Ngọc Yểng hy sinh làm mọi người lặng đi. Thắng ra lệnh cho các chiến sĩ trong tổ rút về chỗ Yểng. Khi ấy, Yểng vẫn ngồi tựa lưng vào vách hào, bàn tay phải còn nắm chặt khẩu K54, đôi mắt bất động vẫn mở to nhìn thẳng về phía trước. Bên cạnh anh, khẩu AK của đại đội trưởng đã bật lê cũng nằm lặng lẽ. Thắng cúi xuống, bàn tay run run vuốt mắt cho Yểng. Anh bàn với mọi người phải giữ gìn 2 khẩu súng và mai táng thi hài Yểng thật chu đáo...

Cuộc chiến đấu ở mỏm 5 đồi Thâm Mô tiếp tục kéo dài cho đến 20 giờ bọn Trung Quốc mới lên được công sự cuối cùng. Từ đó, với lòng thương tiếc và yêu mến sâu sắc, các chiến sĩ trung đoàn 12 gọi đồi Thâm Mô là đồi Phạm Ngọc Yểng.

Còn gia đình Phạm Ngọc Yểng khi biết tin này đã viết thư cho trung đoàn 12. Bức thư có đoạn:

"Gia đình tôi vô cùng đau xót khi nhận được tin cháu Yểng hy sinh. Bởi vì đối với tất cả mọi người trong gia đình, Yểng là người con hiếu thảo, người anh rất mực yêu thương của các em nhỏ... Không thể nào kể xiết nỗi đau buồn của gia đình khi mất đi một người con thân yêu ! Nhưng các đồng chí ơi, hôm nay, cố nén đau thương viết thư gửi tới các đồng chí, tôi không muốn nói tới điều ấy mà muốn nói rằng gia đình tôi rất tự hào về cháu và rất căm thù bọn xâm lược... Gia đình tôi thành thật cảm ơn Đảng, cảm ơn các cán bộ và anh em chiến sĩ đã rèn luyện dìu dắt cháu Yểng trở thành một con người biết chiến đấu đến cùng và dũng cảm hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ! Cám ơn các chiến sĩ trung đoàn Tây Sơn đã gắn tên cháu Yểng với núi sông để cháu sống mãi với đất nước..."

Đối với sư đoàn Sao Vàng trong những ngày quyết liệt này càng thấy rõ phẩm chát cao quí của mỗi cán bộ, chiến sĩ, càng biết ơn những người mẹ Việt Nam đã sinh ra và gửi đến cho sư đoàn những người con ưu tú biết sống, hy sinh và chiến đấu xứng đáng để hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang.

Cùng với Thâm Mô, cuộc chiến đấu của chiến sĩ ta ở điểm cao Pháo Đài suốt mấy ngày qua cũng diễn ra vô cùng khốc liệt.

Còn nữa...
Nguồn: Không được đụng đến Việt Nam - NXB Quân Đội - 1979

#NVN

Đăng nhận xét

0 Nhận xét