Bí mật vụ án gián điệp biệt kích "K50" ở Hà Tĩnh năm 1967-1971

Bí mật vụ án gián điệp biệt kích "K50" ở Hà Tĩnh năm 1967-1971 - Bài 1: Sự ra đời của những toán biệt kích

Năm 1959, sau khi đã thanh toán xong các giáo phái chống đối ở miền Nam Việt Nam, đồng thời ban hành Luật 10/59, “đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, chính quyền Diệm, Nhu dưới sự gợi ý của người Mỹ, đã xây dựng hoàn chỉnh một cơ quan đặc biệt, được thành lập từ năm 1956, núp dưới cái tên rất hiền lành: “Sở Khai thác địa hình”. Thực chất, đây là một đơn vị tình báo tác chiến trực thuộc Phủ Tổng thống, do đại tá Lê Quang Tung làm chỉ huy trưởng.

Sở Khai thác địa hình có một phòng được gọi là Phòng 45 hay Phòng E, chịu trách nhiệm thu thập tin tức về miền Bắc thông qua những người di cư hoặc những kẻ bỏ trốn vào miền Nam sau năm 1954. Ðến năm 1960, hoạt động tình báo được đặc biệt chú trọng hơn nữa, nhất là sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Ðể yểm trợ cho công tác bí mật này, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA), một bộ phận gọi là Combined Studies (Nghiên cứu tổng hợp) thuộc Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đã hỗ trợ Sở Khai thác địa hình bằng việc gửi chuyên viên huấn luyện những bài học tình báo căn bản, cung cấp trang thiết bị, tài chính để Phòng 45 hoạt động.

Đầu năm 1963, Sở Khai thác địa hình đổi tên thành Bộ Tư lệnh Lực lượng đặc biệt với hai đơn vị là Liên đoàn 77 và Liên đoàn 31 - trong đó Phòng 45 biến thành Sở Khai thác. Song song với sự cải tổ ấy, Bộ Chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV) cũng cho ra đời cơ quan MACV - SOG (Studies and Observations Group - Nhóm cố vấn và yểm trợ cho các công tác đặc biệt). Ðến năm 1965, Sở Khai thác đổi tên thành Sở Kỹ thuật - rồi nâng lên thành Nha Kỹ thuật mà mục đích không ngoài việc huấn luyện biệt kích để tung ra miền Bắc.

Trong Nha Kỹ thuật, bộ phận chịu trách nhiệm chính trong việc tung biệt kích ra Bắc là Ðoàn 68. Nó tổ chức và chỉ đạo các toán tình báo hoạt động dài hạn tại miền Bắc bằng cách thiết lập những căn cứ cố định hoặc di động, móc nối dân địa phương để thu thập thông tin tình báo, theo dõi và trinh sát các mục tiêu trọng yếu, các tuyến đường vận chuyển vũ khí, trang thiết bị quân sự nằm dọc theo biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Lai Châu, các khu vực là đầu mối của việc chuyển quân vào Nam ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình rồi báo cáo về Sài Gòn để không quân Mỹ tung ra những cuộc ném bom đánh phá, ngăn chặn.

TOÁN BIỆT KÍCH HADLEY

Trong chiến tranh chống Mỹ, Hà Tĩnh là một trong những địa bàn trọng điểm, bởi quốc lộ 8 bắt nguồn từ Ngã ba Bãi Vọt (nay là TX. Hồng Lĩnh) qua biên giới Việt - Lào rồi xuyên dãy Trường Sơn, nối liền với các nhánh đường mòn Hồ Chí Minh, tạo ra một hành lang tương đối thuận lợi và an toàn cho bộ đội ta chi viện chiến trường miền Nam. Ðể ngăn chặn, người Mỹ ngoài việc sử dụng sức mạnh không quân còn tiến hành một loại chiến tranh khác: “Chiến tranh gián điệp”.

Với đội quân biệt kích hàng ngàn người, chia thành gần 100 toán, từ năm 1960 đến 1968, CIA và Nha Kỹ thuật đã tung ra miền Bắc 54 toán với tổng cộng 342 biệt kích. Trong đó, hàng chục toán xâm nhập bằng đường biển, đường không vào địa bàn Hà Tĩnh từ năm 1961 đến 1968 với mục tiêu là các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hương Sơn, Hương Khê…

Cuối năm 1966, trong số hàng trăm tên biệt kích ở Trung tâm huấn luyện biệt kích Long Thành, tỉnh Biên Hòa (nay là Ðồng Nai), một nhóm 15 tên được Nha Kỹ thuật chọn riêng, đặt bí danh là “Toán T”. Khi Lê Văn Ngung lên làm trưởng toán, nội bộ có sự mâu thuẫn, một số thành viên không tán thành nên Nha Kỹ thuật tách từ “Toán T” ra 4 người để lập thêm một toán nữa, gọi là “Toán T2” nhằm bổ sung cho “Toán T” khi cần thiết. Vì vậy, “Toán T” chỉ còn 11 người gồm Lê Văn Ngung - toán trưởng; Nguyễn Văn Thương - toán phó; Nguyễn Thế Khoa và Phạm Viết Phúc - điện báo viên cùng 7 người khác là Tùng, Hinh, Lao, Khoan, Tinh, Quy, Trọng.

Khóa huấn luyện “Toán T” do đại úy Pred Caristo, cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy, phụ trách giảng dạy là đại úy tên Dung, trong đó các biệt kích học cách xâm nhập bằng đường không, cách đặt thiết bị đo chấn động trên đường giao thông để đếm lượng xe qua lại, cách mưu sinh thoát hiểm, cách móc nối dân địa phương, cách khai thác và thu thập thông tin, sử dụng điện đài, chất nổ, sử dụng những loại vũ khí của những nước xã hội chủ nghĩa, cách ăn mặc, nói chuyện sao cho giống như những người dân, bộ đội miền Bắc. Kết thúc khóa học, “Toán T” được Pred Caristo đặt cho bí danh mới là “Hadley”. Các thành viên trong toán lần lượt mang tên theo thứ tự: Hadley 1, Hadley 2…, cho đến Hadley 11.

XÂM NHẬP MIỀN BẮC

Chiều 26-1-1967, dưới sự hộ tống của cố vấn Mỹ Pred Caristo và đại úy Dung, toán Hadley được xe quân sự đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất rồi lên chiếc máy bay vận tải C.47, bay đến sân bay Nakhon Phanom, đông bắc Thái Lan. Đại úy Nguyễn Văn Vinh thuộc Nha Kỹ thuật đã chờ sẵn tại đây. Vài phút sau, chúng chuyển sang máy bay trực thăng H34 không số hiệu, không sơn cờ nước nào, do phi công người Đài Loan điều khiển. Sau ngày 30-4-1975, hồ sơ về toán Hadley còn lưu trữ tại Nha Kỹ thuật Sài Gòn cho thấy: 17 giờ ngày 26-1-1967, chiếc trực thăng chở toán Hadley cất cánh từ sân bay Nakhon Phanom, có 1 chiếc khác kèm theo, cả 2 bay ở độ cao dưới 1.000m. Hai máy bay vừa qua vùng biên giới Lào, Việt thì có tiếng súng dưới đất bắn lên. Cho rằng đây chỉ là những loạt đạn hú họa của bộ đội Bắc Việt hoặc của lực lượng Cách mạng Lào (Pathet Lào) mỗi khi thấy máy bay bay thấp, nhưng để đánh lạc hướng, viên phi công lái chiếc trực thăng thứ hai lập tức lượn vòng lại trong lúc chiếc thứ nhất vẫn giữ nguyên lộ trình. Lúc vừa đến tọa độ đã định, chiếc thứ nhất hạ độ cao rất nhanh rồi sà xuống một triền đồi mọc đầy lau sậy. Khi thấy những tên biệt kích cuối cùng trong toán Hadley đã nhảy xuống, viên phi công vội vã kéo mạnh cần lái. Chiếc trực thăng bốc lên trong tư thế gần như đứng thẳng. Lúc trực thăng đã lên cao, Nguyễn Văn Vinh nhìn ra khung cửa kính, tim như ngừng đập vì bên kia đồi, nơi vừa thả toán biệt kích là một con đường đất. Khi thông qua kế hoạch hành quân, trên tấm bản đồ không ảnh chẳng hề có con đường này. Như vậy, họ đã thả toán biệt kích xuống nhầm chỗ! Chiếc thứ hai bay sau cũng phát hiện sự nhầm lẫn đó nên vội báo về Nha Kỹ thuật. Cố vấn Pred Caristo yêu cầu chiếc trực thăng thả toán biệt kích phải quay trở lại, đón toàn bộ lên. Khi trực thăng còn cách mặt đất khoảng 1m, Nguyễn Văn Vinh cùng phi công phụ vội vã nhảy xuống, vừa chạy vừa gọi toán biệt kích. Họ kêu tên từng người nhưng không ai trả lời, tất cả đã biến mất vào rừng. Trở lại Nakhon Phanom, đại úy Vinh ngồi cạnh những thùng lương thực để sẵn sàng tiếp tế cho toán biệt kích. 48 giờ trôi qua, toán Hadley vẫn biệt tăm. Quay về sân bay Đà Nẵng, trong hai ngày kế tiếp, Nguyễn Văn Vinh đi theo chiếc khu trục AD-1 do phi công Sài Gòn cầm lái, 3 lần bay qua điểm hẹn với toán Hadley, hy vọng thấy tấm panô báo nguy hoặc tín hiệu an toàn của nhóm biệt kích song tất cả chỉ là rừng xanh núi thẳm mịt mù.

Thời điểm toán Hadley xâm nhập Hà Tĩnh thì Tết Nguyên đán Ðinh Mùi cũng đang đến gần. Trước đó, Nha Kỹ thuật cho rằng càng gần Tết thì việc bố phòng của ta càng lơi lỏng, ít chú ý tới việc tuần tra. Trong chuyến xâm nhập này, nhiệm vụ của toán Hadley là thu thập tin tức về tuyến đường vận chuyển vũ khí, đạn dược vào Nam, địa điểm đóng quân của bộ đội, kho tàng, bến bãi, cầu phà trên quốc lộ số 8 từ Hà Tĩnh nối với đường 15, đường 81, 12 và 121 của Lào; các trận địa pháo cao xạ, tên lửa phòng không của ta dọc tuyến biên giới; nắm tình hình đời sống kinh tế, xã hội, của cư dân địa phương. Ngoài ra, Hadley còn phải theo dõi tuyến giao thông đường thủy trên sông Ngàn Phố…

Sau khi đổ bộ 10 phút, cả toán di chuyển theo hướng tây bắc. Ði được khoảng 500m, toán trưởng Lê Văn Ngung ra lệnh dừng lại nghỉ ngơi. Mờ sáng, lúc vừa tỉnh dậy, chuẩn bị đến địa điểm theo tọa độ mà Nha kỹ thuật đã chỉ định, nhóm biệt kích bỗng nghe tiếng chó sủa, tiếng người nói chuyện từ xa vọng lại, mỗi lúc một gần hơn. Hốt hoảng, cả bọn cắm đầu chạy vì lúc còn ở trên trực thăng, đại úy Vinh đã phổ biến rằng khu vực mà toán nhảy xuống, trong bán kính 3km không hề có thôn xóm, làng mạc.

Chạy được một lát, khi không còn nghe thấy tiếng người, tiếng chó chúng mới dám dừng lại. Lúc bị bắt, Tùng, một biệt kích khai: “Chúng tôi chọn địa điểm nằm trên một khe suối hiểm trở làm chỗ đóng quân nhưng không dám dựng ăng ten để lên máy báo về trung tâm vì sợ bị lộ”…
___________
[VŨ CAO/baobariavungtau - Theo tư liệu của Thượng tá Nguyễn Khánh Toàn, cựu cán bộ trinh sát chuyên án “K50”, nguyên Phó trưởng phòng A41 - Bộ Công an]

Ảnh: Toán biệt kích Hadley nhảy từ trực thăng không cờ hiệu, không số hiệu xuống Hà Tĩnh.

#TNT


Đăng nhận xét

0 Nhận xét