FGiảm giá thiết kế nhận diện thương hiệu tại bắc ninh

7/30/2018

TRỞ THÀNH ĐẢNG VIÊN VÀ TIẾP TỤC NHỮNG NGÀY THÁNG ÁC LIỆT (P1)

TRỞ THÀNH ĐẢNG VIÊN VÀ TIẾP TỤC NHỮNG NGÀY THÁNG ÁC LIỆT (P1)
Gần 6 tháng đi công tác xa đại đội, tôi theo các thủ trưởng Trung đoàn liên tục hoạt động độc lập. Chỉ mấy thầy trò đi nghiên cứu địa hình, nghiên cứu trận địa, rồi tổ chức chiến đấu giành nhiều thắng lợi.
Tôi và Quý về đơn vị, các thủ trưởng ai cũng mừng. Thủ trường Như, Chính trị viên Đại đội gọi tôi và Quý lên gặp. Chúng tôi kể lại những việc làm của mình trong thời gian đi phục vụ thủ trưởng Trung đoàn. Thủ trưởng Như cũng như các đồng chí khác trong Ban Chi huy Đại đội rất vui và nói:
- Chúng tôi biết tất cà, các thủ trưởng Trung đoàn cũng đã nói hết với chúng tôi rồi. Các đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Thủ trưởng Như nói tiếp:
- Cấp ủy họp và đã xét kết nạp Đảng cho hai đồng chí ngay tại trận, ngay ở trên chốt, nhưng do địch đánh phá ác liệt quá chúng tôi không lên được. Chiều nay chi bộ sẽ tổ chức kết nạp Đảng cho hai đồng chí coi như kết nạp tại trận mong các đồng chí thông cảm.
Ngày vào Đảng của tôi và Quý là ngày 11 tháng 2 năm 1968, chúng tôi mừng lắm vì mình mới về đơn vị được một năm lại liên tục đi công tác xa ấy thế mà cấp ủy, các thủ trưởng luôn quan tâm theo dõi những công việc của mình làm. Ngày ấy vào Đảng sao khó thế. Đại đội 16 chúng tôi từ ngày vào Nam đến giờ đã hơn 2 năm, mới kết nạp được hai đồng chí, nay thêm tôi và Quý nữa là bốn.
Được vào Đảng là vinh dự, tự hào. Với thời gian dự bị là 9 tháng, phải thừ thách trong điều kiện chiến đấu ác liệt. Nếu mình không phấn đấu tiếp sẽ bị xóa tên. Vì thế, mình phải gương mẫu hơn và đơn vị sẽ còn giao nhiều nhiệm vụ khó khăn hơn.
Sau Mậu Thân 1968, địa bàn hoạt động của Trung đoàn gặp rất nhiều khó khăn. Địch đổ quân lùng sục khắp nơi, đặc biệt là nó rải quân phục kích đường tiếp tế từ ngoài vào cho Trung đoàn.
Cả một Trung đoàn bộ binh, gạo, đạn, thuốc men với một khối lượng rất lớn, chi trông cậy vào Tiểu đoàn vận tải của Bộ Tư lệnh B3. Địch liên tục phục kích. Ba đại đội đi vận tải thì chi có một đại đội mang hàng, còn hai đại đội bảo vệ và chiến đấu.
Trung đoàn phải điều thêm một Tiểu đoàn bộ binh và rút bớt lực lượng trực thuộc đi vận chuyển, nhưng chẳng được mấy chuyến đi trót lọt. Quân số thương vong đi lấy hàng cao hơn nhiều so với chiến đấu. Đồng chí Thắng, Chính trị viên Tiểu đoàn bị hi sinh khi đi lấy hàng.
Nguồn hàng mì chính, muối và một số thuốc kháng sinh trước đây Ban kinh tài các huyện mua từ vùng địch hậu, nay địch đã khóa chặt và cơ sở của ta cũng bị bắt gần hết. Một chuyến hàng từ hậu cứ vào Trung đoàn chúng tôi nếu đi suôn sẻ phải mất 7 ngày. Do khó khăn về vận tải nên chi ưu tiên vận chuyển súng đạn, thuốc men, còn lương thực thì từ tháng 3 năm 1968 đơn vị ăn toàn sắn và ngô của dân tại chỗ.
Người ốm đau không ăn được cơm thì mới có tý gạo nấu cháo. Tôi nhớ Trung đoàn trường cần cứ mỗi khi ăn sắn nẩu với ngô là nôn. Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn quyết định để bảo đảm sức khỏe cho thủ trường, Trung đoàn trưởng cần mỗi ngày được ăn một lạng gạo. Ấy thế mà thủ trường chẳng dám ăn, anh em công vụ phải tìm mọi biện pháp cải tiến để thủ trưởng ăn được. Ngô thì rang lên, sắn thì làm bánh và nướng.
Anh em đi chiến đấu hai ba ngày phải dùng sắn nướng cả vỏ cột gói mang theo chẳng khác nào vác thêm mấy quả đạn B40. sắn nướng ăn ba bốn ngày không bị thiu.
Muối cũng vô cùng khan hiếm. Mỗi người, mỗi tháng chi được ba lạng muối, anh em phải đào thêm riềng gió dã nhỏ trộn vào để ăn cho đủ. Bữa nào săn được con thú rừng, cán bộ phải đi gom mỗi đồng chí một thìa muối để nấu. Hằng ngày canh nấu chín rồi thì chia ra, người nào người nấy tự bỏ muối vào mà ăn. Vì chúng tôi đi công tác lẻ thường xuyên, nên mồi khi nhận muối về là cán bộ chia ra từng đồng chí tự bảo quản và tự chia ra mà ăn cho đủ tháng. Mì chính thì chỉ dành cho thương binh, bệnh binh ăn cháo.
Địch liên tục đổ quân lùng sục lên tận các hang đá, đổ nhiều trận địa pháo để bắn phá lung tung.
Chúng tôi phải thường xuyên di chuyển vị trí. Đại đội quân y được tăng cường, cả Đại đội vận tải đi cùng để khiêng cáng thương binh. Tất cả thương binh, bệnh binh đều nằm trên cáng để sẵn sàng di chuyển khi có địch càn. Chúng tôi thường xuyên theo dõi nắm địch để tránh né các đường hành quân của chúng.
Chiến trường vùng này toàn là lính Mỹ nên nó đổ quân ở đâu, đường hướng đi thế nào rất dễ phán đoán.
Trước khi đổ quân địch cho pháo hoặc máy bay bắn phá cả một vùng để dọn bãi, đường hành quân có máy bay dẫn đường. Địch đi thường theo phương vị trên bản đồ nên nó cứ đi thẳng. Trên đường đi, gặp dốc núi cao, đứng bao nhiêu cũng cứ đi thẳng, không vòng tránh. Gặp suối sâu, không qua được thì chúng gọi máy bay trực thăng đến tăng bo. Gặp các đường cắt ngang của bộ đội ta cũng không lùng sục theo vì sợ mìn và sợ ta phục. Địch đi theo mệnh lệnh và sự chi dẫn của trung tâm do vậy ta rất dễ tránh né. Có những lần chúng tôi đi bám địch chỉ nằm cách nó vài trăm mét, cứ ngồi chờ nó đi đường nào là chạy về báo đơn vị tránh né.
Các đơn vị cùa Trung đoàn đóng cách nhau rất xa, nhất là 2 Tiểu đoàn bộ binh có khi phải đi 2 đến 3 ngày đường.
Hệ thống thông tin liên lạc rất khó khăn chủ yếu là chạy bộ và hiệp đồng. Máy 15W của Trung đoàn chủ yếu dùng để báo cáo lên cấp trên và nhận chi thị của trên xuống. Nhưng cứ mỗi lần mở máy ra làm việc là hầu như bị lộ, chỉ một chốc là có pháo hoặc máy bay trinh sát đến, rồi máy bay phản lực ném bom và nhiều lần bị B52 đánh bom.
Vùng này chi có một dãy núi cao, cái đuôi của đèo Măng Giang xuống còn lại là bằng phăng. Địch có hệ thống ra đa quét ở đèo An Khê nên cứ mở máy ra là nó phát hiện được. Chính vì vậy nên ta chủ yếu dùng máy 2W dành cho lúc nổ súng.
Trung đoàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị liên tục chủ động tấn công địch bằng nhiều hình thức: Phục kích, tập kích, pháo kích... đánh cả phía trước và phía sau. Mỗi lần địch đổ quân ra càn quét về hậu phương ta thì ta lại tổ chức những trận đánh giao thông trên đường 19.
Các đơn vị trực thuộc như công binh, trinh sát, thông tin, truyền đạt, thay nhau 5 đến 7 người bám đường 19, đánh mìn, bắn phá đường ống dẫn dầu của địch. Khi ống bị bắn thủng, dầu chảy lênh láng xuống sông làm cá chết trôi trắng sông cả tuần.
Tháng 6 năm 1968, địch đổ một Đại đội 5 khẩu pháo 105 ly xuống để bắn chi viện cho một Tiểu đoàn lính Mỹ đi càn. Nó vừa đổ xong, lập tức Trung đoàn cho 2 khẩu cối 82 tập kích, cả 5 khẩu pháo đều bị hỏng nặng, lính bị thương vong nhiều, địch phải cho máy bay lên cẩu pháo về.
Khu vực chúng tôi hoạt động rộng lắm, có nhiều chỗ pháo binh của địch ở các căn cứ không thể bắn tới nên mỗi lần đi càn quét địch đều đổ pháo 105 ly xuống để hỗ trợ.
Những tháng đầu mùa mưa là khó khăn nhất về đạn dược. Lúc nào Trung đoàn cũng hô hào đánh tiết kiệm, thiếu nhất là đạn hỏa lực B40-B41, ĐKZ và cối 82. Đơn vị đánh giao thông mà đạn B40, B41 chỉ để dành bắn xe tăng, còn xe chở dầu, chờ đạn thì bắn AK và lựu đạn, thủ pháo.
Cuối mùa mưa năm 1968, máy bay địch rải chất độc hóa học dọc hai bên đường 19 làm cho cỏ cây chết hết. Sau đó cho mảy máy bay phun xăng rồi đốt cháy hết tạo nên một dải trống rỗng khoảng 300 đến 400 mét. Việc đánh giao thông của ta gặp rất nhiều khó khăn. Trước đây bộ đội nằm cách mép đường có mười đến mười lăm mét nay phải nằm cách xa 300 đến 400 mét.
Tổ chức một trận đánh hết sức công phu, phải hiệp đồng nhiều bộ phận, nhiều loại hỏa lực, nhiều đơn vị với nhau. Trung đoàn tổ chức đặt một đài quan sát trên núi cao theo dõi lưu lượng xe đi trên đường, cự ly, khoảng cách, tốc độ và cách tổ chức bảo vệ của nó. Chúng tôi có 4 trinh sát và 4 lính truyền đạt đặt đài quan sát này.
Cứ hai ngày chúng tôi về báo cáo với Trung đoàn một lần vì không có máy 2W. Hằng ngày chúng tôi theo dõi, thấy địch hoạt động như sau:
Sáng ra, các tổ công binh đi kiểm tra, dò mìn trên đường và cả hai bên đường. Tiếp đó, LI9 bay thật thấp dọc đường quan sát rồi đến 2 chiếc trực thăng HU1A bay thấp 2 bên đường từ An Khê đến PLâycu rồi quay lại. Sau đó, lính bảo vệ đường rải ra chốt những điểm xung yếu mà ta hay tấn công. Mỗi điểm một tiểu đội lính và một chiếc xe M113. Khoảng gần 8 giờ sáng, máy bay đi trước dẫn đường, cho các đoàn xe vận tải đi sau.
Nắm được quy luật hoạt động của địch như vậy, Trung đoàn cho Đại đội công binh dùng một Tiểu đội bẩn tỉa, bắn lính địch đi dò mìn. Súng bắn tia ở cự ly 500 đến 600 mét thì bắn phát nào trúng phát đó. Cứ mỗi sáng diệt vài tên, làm cho lính công binh của địch phát khiếp không dám đi dò mìn nữa.
Sau nhiều lần đánh cấp đại đội và tiểu đoàn, Trung đoàn quyết định tổ chức một trận đánh cấp Trung đoàn, lực lượng chủ yếu vẫn là 2 Tiểu đoàn bộ binh. Nhưng trận đánh này huy động toàn bộ các Đại đội trực thuộc tham gia.
Tôi nhớ hôm đó là một ngày cuối tháng 7 năm 1968, trận phục kích vận động đánh giao thông trên đường 19 đoạn phía tây cầu Xà Guồng.
Hơn 8 giờ sáng, đài quan sát báo về Trung đoàn, đoàn xe của địch hơn 100 chiếc, có xe tăng hộ tống đã vượt qua đèo An Khê, trước trận địa phục kích của 2 Tiểu đoàn. Địch có 2 cụm lính, mỗi cụm 2 chiếc xe M113 làm nhiệm vụ canh phòng và sẵn sàng tác chiến bảo vệ đoàn xe trên đường hành quân.


Theo hiệp đồng, khi đoàn xe địch chạy lọt vào đội hình, chiếc đầu tới tổ chặn đầu thì lập tức dùng ĐKZ bắn chặn đầu và bắn khóa đuôi. Hai tiểu đoàn dùng ĐKZ 82 kết hợp B41 diệt hai cụm xe tăng cảnh giới của địch để bộ đội xung phong đánh thẳng vào đoàn xe.


Đường vận động của bộ đội khá xa, đến 500 mét. Khi bộ đội vận động tấn công, 2 khẩu cối 82 bắn kiềm chế vào hai trận địa pháo để đảm bảo cho bộ binh rút quân an toàn về phía sau.


Khi cối 82 bắn, lực lượng công binh cho nổ mìn ở trận địa giả để địch cho máy bay lên oanh tạc và pháo phản pháo vào trận địa giả, tạo điều kiện cho pháo binh rút quân ra khỏi vòng nguy hiểm.


Tôi ngồi ở đài quan sát cùng với anh em trinh sát theo dõi trận đánh. Trận đánh đúng theo ý định của ta, giống như diễn tập. Tiếc thay đoàn xe chạy cách nhau quá xa nên chi có 2 phần 3 lọt vào đội hình. Quân ta nhảy ra mặt đường tiêu diệt đoàn xe, bắn cháy hơn 60 chiếc, trong đó có một số xe tăng, xe bọc thép.
Một số anh em nhảy vào ca bin xe, lấy được hơn 10 khẩu súng AR15 và một số quân dụng khác. Đoàn xe bốc cháy hàng tiếng đồng hồ làm đoạn đường tắc nghẽn.Buổi chiều địch cho xe tăng, xe ủi lên húc những chiếc xe cháy xuống vệ đường. Trận đánh kết thúc. Khi về phía sau rút kinh nghiệm, từ cán bộ đến chiến sỹ ai cũng thừa nhận đây là một trận đánh hay, hiệu quả cao, không có thương vong.
Tổng kết 6 tháng hoạt động của đầu năm 1968, Trung đoàn tôi đã bắn cháy 660 xe quân sự các loại. Trong đó có một số xe tăng, xe bọc thép M113, được Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đánh giá là Trung đoàn đánh giao thông giỏi nhất toàn Miền. Tổng số xe của Trung đoàn diệt được bằng 1 phần 4 số xe Mỹ Ngụy bị quân giải phóng tiêu diệt.
Địch choáng váng trước trận đánh thần kỳ của Trung đoàn 95, chúng đổ quân đi càn quét ra phía sau của ta. Trung đoàn cho công binh, trinh sát dùng nhiều tổ nhỏ lẻ, cài mìn đánh phá đường ống dẫn dầu trên đường 19. Tổ chúng tôi vẫn liên tục bám đài quan sát để theo dõi mọi hoạt động của địch từ An Khê đến đèo Mang Giang. Thực chất thì chỉ nắm được một đoạn đường tây cầu Xà Guồng vì địa hình đoạn này ta mới triển khai được trận địa phục kích.
Các đoạn khác dốc ngược, bộ đội không thể vận động được. Nếu ờ phía bên kia đường đánh sang thì thuận lợi nhưng toàn dốc cao, không có nơi dấu quân, đánh xong không biết chạy về đâu.
Chúng tôi ờ đài quan sát theo dõi quy luật hoạt động của một Trung đội lính Mỹ, có xe tăng hỗ trợ để bảo vệ cầu Xà Guồng.
Sáng ra, địch trên hai chiếc M113 đi tuần tra trên tuyến đảm nhiệm. Nếu đường an toàn không có vấn đề gì là chúng về đậu xe thành hai điểm, cởi quần áo chỉ mặc có một cái quần lót chơi bóng chuyền. Thằng nào thằng nấy to cao, béo đỏ chia nhau ra chơi bóng hàng tiếng đồng hồ rồi nhảy xuống suối tắm.
Địa hình xung quanh sân bóng, địch cho xe ủi bằng phẳng và có một con suối bao bọc phía ngoài. Bên này bờ suối vào tới bìa rừng dài khoảng 400 mét, cây cối bị đốt cháy sạch. Đang mùa mưa nên có nhiều rãnh nước chảy xói mòn, một số cây cháy chưa hết còn ngổn ngang.
Chúng tôi báo cáo với Trung đoàn về quy luật hoạt động của Trung đội lính Mỹ và địa hình, địa vật xung quanh cầu Xà Guồng, đặc biệt là địa hình tiếp cận sân bóng chuyền của địch. Sau khi nghe báo cáo, Trung đoàn quyết định tổ chức một trận tập kích diệt Trung đội Mỹ này.
Trung đoàn giao cho trinh sát dẫn cán bộ đại đội, cán bộ Tiểu đoàn 2, ban đêm mò vào nghiên cứu trận địa và xác định cách đánh. Qua nghiên cứu thực địa và tình hình cụ thể, Trung đoàn quyết định dùng một Trung đội bộ binh tăng cường do Đại đội trường Đại đội 3 chỉ huy. Trung đội độn thổ sẵn, khi địch xuất hiện dùng hỏa lực và súng bộ binh tập kích.
Hôm đó, vào giữa tháng 7 năm 1968, tối đến Đại đội 3 tiền nhập trận địa lợi dụng các rãnh đất, các loại cây cháy dở anh em vẹt đất nằm độn thổ, 12 người mà chi có 3 khẩu súng B40. số còn lại ngụy trang cho anh em chu đáo rồi rút ra bìa rừng nằm để chờ bảo vệ cho anh em khi đánh xong rút quân được an toàn.
https://www.facebook.com/QuanDoiVietNam/posts/1345391182238336:0
#CCB_Dương_Công_Hợi
#Vnmilitaryhistory
#KGB
Album NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHINH CHIẾN
Share: